|
III. Phán Xét như bối cảnh
cho việc học hỏi và thực
hành hy vọng.
41. Trong phần kết của đoạn
giữa Kinh Tin Kính
của Giáo Hội – phần kể lại
mầu nhiệm Chúa Kitô, từ lúc
sinh ra hằng hữu bởi Chúa
Cha và lúc sinh ra hữu hạn
bởi Đức Maria Đồng Trinh,
qua Thập Giá và Phục Sinh
đến khi Người lại đến lần
thứ hai - chúng ta thấy câu:
“Người sẽ trở lại trong vinh
quang để phán xét kẻ sống và
kẻ chết.” Từ thời xa xưa,
viễn ảnh của sự Phán Xét đă
ảnh hưởng đến các Kitô hữu
trong đời sống hàng ngày như
một tiêu chuẩn để sắp xếp
trật tự cho đời sống hiện
tại của họ, như những lời
réo gọi trong lương tâm của
họ, và đồng thời như niềm hy
vọng vào công lư của Thiên
Chúa. Đức tin vào Chúa Kitô
không bao giờ chỉ nh́n lui
lại phía sau hay nh́n lên
trên, mà cũng luôn luôn nh́n
về phía trước về giờ phán
xét mà Chúa luôn nhắc nhở.
Việc nh́n về phía trước này
làm cho Kitô hữu thấy được
tầm quan trọng của hiện tại.
Khi thiết kế các thánh đường
Kitô Giáo, với ư hướng làm
rơ chiều kích lịch sử và vũ
trụ của đức tin nơi Đức
Kitô, thông thường ở đầu
phía đông của thánh đường,
người ta tŕnh bày Chúa Kitô
trở lại như một vị vua - một
biểu tượng của hy vọng;
trong khi ở bức tường phía
tây người ta thường tŕnh
bầy cuộc Chung Thẩm như một
biểu tượng của trách nhiệm
chúng ta đối với đời sống
ḿnh - một h́nh ảnh theo
đuổi và đồng hành với các
tín hữu khi họ bước ra khỏi
thánh đường để tiếp tục cuộc
sống hàng ngày. Tuy nhiên,
khi h́nh ảnh về cuộc Chung
Thẩm được phát triển, càng
ngày những khiá cạnh kinh
hoàng và đáng sợ càng được
chú ư làm nổi bật lên, điều
này hiển nhiên thu hút các
họa sĩ hơn là vẻ huy hoàng
của hy vọng, thường bị chôn
vùi bên dưới những sự kinh
hoàng.
42. Trong thời đại mới, ư
tưởng Chung Thẩm đă mờ dần
bên trong hậu trường: đức
tin Kitô đă được cá nhân hóa
và người tín hữu hướng nhiều
hơn đến phần rỗi của chính
linh hồn ḿnh, trong khi sự
suy tư về lịch sử thế giới
lại bị lấn át bởi ư tưởng
của thuyết tiến bộ. Tuy
nhiên, nội dung căn bản của
việc trông đợi ngày Chung
Thẩm vẫn chưa mất đi: nó chỉ
đơn thuần nhận lấy một h́nh
thức hoàn toàn khác. Thuyết
vô thần của thế kỷ 19 và 20
- trong nguồn gốc và mục
đích của nó- là một học
thuyết luân lư: một sự phản
kháng chống lại những bất
công của thế giới và của
lịch sử thế giới. Một thế
giới được ghi dấu bởi quá
nhiều những bất công, những
đau khổ của người vô tội, và
sự hoài nghi quyền lực,
không thể nào là kỳ công
tŕnh của một Thiên Chúa tốt
lành. Một Thiên Chúa chịu
trách nhiệm về một thế giới
như vậy không thể là một
Thiên Chúa công chính, và
càng không phải là một Thiên
Chúa nhân lành. V́ lợi ích
của luân lư, Thiên Chúa này
phải bị thách đố. V́ không
có một Thiên Chúa đứng ra
tạo lập công lư, nên dường
như chính con người ngày nay
được mời gọi để thiết lập
công lư. Trước đau khổ của
thế giới này, sự thách đố
chống lại Thiên Chúa là có
thể hiểu được; nhưng điều
cho rằng nhân loại có thể và
phải làm những ǵ không có
Chúa nào thực sự làm hay có
thể làm, vừa là quá ngạo mạn
vừa là sai lầm từ bên trong.
Tư tưởng này không phải ngẫu
nhiên đă đưa đến những h́nh
thức ghê gớm nhất của sự bạo
tàn và những chà đạp công
lư; nhưng chính là v́ nó đă
được đặt căn bản trên sự sai
lầm nội tại của khẳng định
này. Một thế giới phải tự
tạo ra công lư cho ḿnh là
một thế giới không có hy
vọng. Không ai và không có
ǵ có thể trả lời cho biết
bao những thế kỷ đau thương.
Không ai và không có ǵ có
thể bảo đảm rằng sự hoài
nghi quyền lực - bất kể nó
mang mặt nạ ư thức hệ nào -
sẽ ngừng thống trị thế giới
này. Chính v́ vậy mà những
tư tưởng gia nổi tiếng của
Trường Phái Frankfurt, như
Max Horkheimer và Theodore
Adorno đă chỉ trích cả
thuyết vô thần lẫn hữu thần.
Horkheimer loại trừ thẳng
tay khả năng t́m được một
cái ǵ trong trần thế có thể
thay thế được Thiên Chúa,
nhưng đồng thời cũng chối bỏ
h́nh ảnh của một Thiên Chúa
tốt lành và công chính. Đề
cập đến việc Cựu Ước kêu gọi
loại trừ triệt để những ngẫu
tượng, ông ta đă coi “sự
khao khát một Đấng toàn năng
khác” dù không tiếp cận được
– như một tiếng kêu đ̣i
hướng đến lịch sử thế giới.
Adorno cũng mạnh mẽ ủng hộ
một thái độ chối bỏ hoàn
toàn những h́nh tượng, mà lẽ
tất nhiên bao gồm sự loại bỏ
bất cứ “h́nh ảnh” nào của
một Thiên Chúa yêu thương.
Mặt khác, ông cũng thường
xuyên nhấn mạnh cái biện
chứng “tiêu cực” này và
khẳng định rằng công lư -
một công lư chân thật - đ̣i
hỏi một thế giới trong đó,
“không những các đau khổ
hiện tại phải được loại trừ,
mà cả quá khứ không thể đảo
ngược được cũng phải được
đền bù lại.” 30
Tuy nhiên, nói một cách tích
cực, dù theo ông vẫn là
những biểu tượng chưa đầy
đủ, th́ điều này có nghĩa là
không thể nào có công lư khi
không có sự sống lại của kẻ
chết. Nhưng như vậy, điều
này sẽ liên quan đến “sự
sống lại của thân xác, một
điều hoàn toàn xa lạ đối với
học thuyết và phạm trù của
thuyết tinh thần Tuyệt Đối.”
31
43. Kitô hữu cũng có thể và
phải thường xuyên học hỏi từ
sự từ bỏ hoàn toàn những
ngẫu tượng được chứa đựng
trong điều răn thứ nhất của
Thiên Chúa (xem Xh
20:4). Sự thật của thần học
tiêu cực được nhấn mạnh
trong Công Đồng Latêranô thứ
Tư, là Công Đồng đă khẳng
định rơ rằng dù cho có sự
tương đồng đến đâu đă được
thiết lập giữa Tạo Hóa và
tạo vật, sự dị biệt luôn
luôn vẫn là lớn hơn. 32
Dù sao chăng nữa, đối với
các tín hữu, sự từ bỏ các
h́nh tượng không thể đi đến
mức quá khích khiến cho
người ta phải trở nên giống
như Horkheimer và Adorno, là
chối bỏ cả hai học thuyết -
hữu thần và vô thần. Chúa đă
tự cho ḿnh một “h́nh ảnh”
trong Đức Kitô xuống thế làm
người. Trong Người, Đấng bị
đóng đinh vào thập giá, sự
bác bỏ những h́nh ảnh sai
lầm về Thiên Chúa đă được
đưa đến tột đỉnh. Chúa giờ
đây mạc khải thiên nhan thật
sự của Người trong h́nh ảnh
của kẻ khổ đau đang chia sẻ
hoàn cảnh của con Người bị
Chúa bỏ rơi bằng cách tự sa
vào hoàn cảnh ấy. Kẻ vô tội
chịu đau khổ này đă mang lại
niềm hy vọng xác quyết là có
một Thiên Chúa, và Thiên
Chúa có thể tạo dựng công lư
theo cách thức chúng ta
không thể h́nh dung ra được,
nhưng lại có thể bắt đầu
hiểu được qua đức tin. Vâng,
có sự sống lại của thân xác.
33 Có công lư.
34 Có một sự “đền
bù lại” các đau khổ trong
quá khứ, một sự sửa sai giúp
cho mọi sự được đúng trở
lại. V́ lư do này, niềm tin
vào cuộc Chung Thẩm là niềm
hy vọng trước hết và trên
hết – một nhu cầu đă được
biểu hiện nhăn tiền qua biết
bao các cuộc nổi loạn trong
các thế kỷ gần đây. Tôi tin
rằng vấn đề công lư là luận
cứ thiết yếu, hay trong bất
cứ trường hợp nào cũng là
luận cứ mạnh mẽ nhất cho đức
tin vào đời sống vĩnh cửu.
Nhu cầu hoàn toàn cá nhân
của chúng ta cho một sự viên
măn đă bị chối từ trong đời
này, cho một t́nh yêu vĩnh
cửu mà chúng ta trông đợi,
chắc chắn là một động lực
quan trọng cho niềm tin là
con người được sinh ra cho
thế giới vĩnh hằng; nhưng,
chỉ trong mối liên hệ với sự
thật theo đó sự bất công của
lịch sử không thể là tiếng
nói sau cùng th́ lúc đó sự
cần thiết cho việc Đức Kitô
trở lại và cho một đời sống
mới, mới trở nên hoàn toàn
đáng thuyết phục.
44.
Nhân danh công lư để chống
lại Thiên Chúa chẳng có ích
lợi ǵ. Một thế giới không
có Thiên Chúa là một thế
giới không có hy vọng (x.
Ep 2:12). Chỉ có Thiên
Chúa mới có thể tạo ra công
lư. Và đức tin cho chúng ta
biết chắc là Người đă làm
như vậy. H́nh ảnh của cuộc
Chung Thẩm chủ yếu không
phải là một h́nh ảnh của
kinh hoàng, nhưng là h́nh
ảnh của hy vọng; đối với
chúng ta đó c̣n có thể chính
là h́nh ảnh có tính chất
quyết định của hy vọng.
Không phải đó cũng là một
h́nh ảnh đáng khiếp sợ sao?
Tôi phải nói: đây là một
h́nh ảnh gợi ra trách nhiệm,
do đó, là một h́nh ảnh của
sự kinh hăi mà Thánh Hilariô
đă đề cập đến khi ngài nói
là tất cả mọi sự sợ hăi của
chúng ta đều có chỗ trong
t́nh yêu. 35
Thiên Chúa là công lư và
Ngài thiết lập công lư. Đây
là niềm an ủi và niềm hy
vọng của chúng ta. Và trong
công lư của Chúa cũng có ân
sủng. Chúng ta biết điều này
khi hướng nh́n lên Chúa Kitô
bị đóng đinh và phục sinh.
Cả hai điều này - công lư và
ân sủng - phải được xem xét
trong mối tương quan nội tại
đúng đắn của chúng. Ân sủng
không xóa bỏ công lư. Ân
sủng không biến sự sai trái
thành đúng đắn. Đó không
phải là một miếng bọt biển
để tẩy xóa mọi sự, khiến cho
bất kể điều ǵ một cá nhân
làm dưới thế đều có cùng một
giá trị như nhau. Chẳng hạn,
Dostoevsky hành động đúng
khi ông chống lại thể loại
thiên đàng, và ân sủng này
trong tác phẩm Anh Em Nhà
Karamazov. Các kẻ dữ,
cuối cùng, không được ngồi
vào bàn của bữa tiệc vĩnh
cửu bên cạnh những nạn nhân
của chúng, như thể đă không
có ǵ xảy ra. Ở đây, tôi
muốn trích một đoạn của
Plato tŕnh bầy một tiên
đoán về sự phán quyết công
b́nh mà trong nhiều khía
cạnh cũng đúng và hữu ích
cho các Kitô hữu. Dù không
dùng đến các h́nh ảnh huyền
thoại, ông tŕnh bầy sự thật
với một sự minh bạch trong
sáng; ông nói rằng cuối cùng
các linh hồn sẽ phải trần
truồng đứng trước vị thẩm
phán. Vấn đề không c̣n hệ
tại ở chỗ họ đă từng là chi
trong lịch sử, nhưng chính ở
điểm họ là ǵ trong sự thật:
“Thông thường, khi vị thẩm
phán phải xử tội một nhà vua
hay một vị nguyên thủ quốc
gia, ngài không thấy linh
hồn này có một cái ǵ tốt
lành cả; chỉ thấy linh hồn
này hằn lên những vết sẹo
bởi những hành động gian trá
và sai trái”; linh hồn ấy bị
méo mó v́ những lừa dối và
kiêu căng, và không có ǵ
ngay thẳng, v́ sự thật không
có chỗ trong sự phát triển
của linh hồn ấy. Quyền hành,
xa hoa, kiêu ngạo, và trụy
lạc khiến cho linh hồn ấy
đầy những sự bất quân b́nh
và ghê gớm đến nỗi sau khi
xem xét, vị thẩm phán tống
ngay nó vào ngục, nơi khi
đến đó nó sẽ phải chịu những
h́nh phạt tương xứng”.
Nhưng, đôi khi, mắt vị thẩm
phán cũng dừng lại trên một
linh hồn khác đă sống trong
sạch và chân thật, “th́ ngài
kính phục và cho gửi ngay
đến những ḥn đảo của những
linh hồn được chúc phúc.”
36 Trong dụ ngôn
người giầu có và Lazarô (x.
Lk 16: 19-31), Chúa
Giêsu răn dạy chúng ta qua
h́nh ảnh của một linh hồn bị
thiêu hủy bởi sự ngông cuồng
và phung phí; người này đă
tạo nên một hố sâu không
vượt qua được giữa hắn và
người nghèo khó; hố sâu của
sự giam ḿnh trong những thú
vui vật chất; hố sâu của sự
bỏ quên người khác, của sự
thiếu khả năng yêu thương,
một hố sâu đă h́nh thành một
nỗi khát khao thiêu đốt và
không thể nào thỏa măn.
Chúng ta phải ghi nhận rằng
trong dụ ngôn này, Chúa
Giêsu không đề cập đến định
mệnh cuối cùng sau cuộc
Chung Thẩm, nhưng lại đưa ra
một quan niệm mới, inter
alia, được thấy trong Do
Thái Giáo sơ khai, đó là một
trạng thái trung gian giữa
cái chết và sự sống lại.,
một trạng thái trong đó phán
quyết cuối cùng chưa được
ban ra.
45. Ư tưởng về trạng thái
trung gian trong Do Thái
Giáo sơ khai bao gồm cả quan
niệm cho rằng các linh hồn
không chỉ đang sống trong
một h́nh thức bị tạm giam,
nhưng như được minh họa
trong dụ ngôn về người giầu
có, các linh hồn đă đang
phải chịu phạt rồi hay đang
được hưởng một h́nh thái
hạnh phúc tạm thời. Cũng có
ư tưởng cho rằng trạng thái
này có thể bao gồm sự thanh
tẩy và chữa lành là những
điều làm cho linh hồn trưởng
thành hầu có thể hiệp thông
với Thiên Chúa. Giáo Hội sơ
khai tiếp nhận các quan điểm
này, và trong Giáo Hội Tây
Phương, chúng dần dần được
phát triển thành học thuyết
về Luyện Ngục. Chúng ta
không cần xem xét ở đây các
nẻo đường phức tạp trong
lịch sử sự phát triển ấy; mà
chỉ cần hỏi xem điều này
thực ra có ư nghĩa ǵ. Với
cái chết, sự chọn lựa trong
cuộc đời của chúng ta trở
nên chung cuộc – cuộc sống
của chúng ta giờ đây đứng
trước ṭa phán xét. Sự chọn
lựa của chúng ta, với nhiều
khả năng lựa chọn đa dạng,
trong dọc dài suốt cuộc đời
giờ đây có một h́nh thù nhất
định. Có những con người đă
hoàn toàn huỷ đi tất cả
những ham muốn của ḿnh v́
sự thật và để luôn sẵn sàng
yêu thương, cũng có những
con người mà mọi thứ trong
đời họ đều là dối trá, và
cũng có những con người đă
sống cho thù hận và đè bẹp
mọi thứ t́nh yêu trong ḷng
họ. Đây là một ư tưởng đáng
sợ, nhưng những diện mạo
đáng lo ngại như thế có thể
thấy được nơi một số nhân
vật nhất định trong lịch sử
chúng ta. Trong những con
người này, mọi sự đă hết
thuốc chữa và sự tàn lụi
điều thiện trong họ không
thể nào đảo ngược lại: đây
là ư nghĩa chúng ta muốn nói
lên trong từ Hỏa Ngục.
37 Mặt khác, có thể
có những người hoàn toàn
trong sạch, hoàn toàn được
thấm nhuần bởi Thiên Chúa,
và do đó, hoàn toàn cởi mở
cho tha nhân- đó là những
người mà sự hiệp thông với
Thiên Chúa ngay cả vào lúc
này đây vạch ra cho họ những
hướng đi cho toàn bộ đời
ḿnh và hành tŕnh của họ
đến với Chúa chỉ là mang
thêm sự viên măn vốn họ đă
có sẵn. 38
46. Nhưng kinh nghiệm cũng
chỉ cho ta rằng cả hai
trường hợp trên đều không là
b́nh thường trong đời sống
nhân loại. Chúng ta có thể
tin rằng đối với đa số
người, trong thẳm sâu con
người của họ, vẫn c̣n một sự
cởi mở tối hậu bên trong
dành cho sự thật, cho t́nh
yêu, và cho Thiên Chúa.
Trong những lựa chọn cụ thể
của cuộc đời, cho dù bị bao
phủ bởi những nhượng bộ luôn
mới mẻ với sự dữ - khiến cho
sự dơ bẩn lấn át sự trong
sạch, nhưng ḷng khát khao
sự thuần khiết vẫn c̣n đó và
vẫn thường xuyên tái xuất
hiện từ tất cả những ǵ là
căn bản và những ǵ vẫn c̣n
sót lại trong linh hồn. Cái
ǵ sẽ xảy ra cho các cá nhân
này khi họ đến trước Ṭa
Phán Xét? Liệu tất cả những
dơ bẩn chồng chất trong suốt
cuộc đời có bổng nhiên trở
nên không c̣n là vấn đề nữa
không? C̣n điều ǵ khác có
thể xẩy ra? Thánh Phaolô,
trong Thư Thứ Nhất gửi
các tín hữu thành Côrintô,
đă đưa ra cho chúng ta một ư
niệm về những hệ quả khác
nhau trong phán quyết của
Thiên Chúa tùy theo từng
trường hợp cụ thể của mỗi
người. Thánh Phaolô làm điều
đó khi dùng những h́nh ảnh
cách nào đó cố gắng diễn đạt
sự vô h́nh, đó là những h́nh
ảnh mà không có chúng, ta
không thể khái quát hóa được
– đơn giản là v́ chúng ta
chẳng thể thấy ǵ bên trong
thế giới sau sự chết và cũng
chẳng có một kinh nghiệm nào
về thế giới ấy. Ngài bắt đầu
bằng cách nói rằng đời sống
Kitô được xây dựng trên một
nền tảng chung là Đức Giêsu
Kitô. Nền tảng này trường
tồn. Nếu chúng ta đă đứng
vững trên nền tảng này và
xây dựng đời ḿnh trên đó,
chúng ta biết rằng nó không
thể nào bị cất đi khỏi chúng
ta ngay cả trong cái chết.
Rồi ngài tiếp: “Người ta có
thể dùng vàng, bạc, đá quư,
gỗ, cỏ, rơm mà xây trên nền
đó. Nhưng công việc của mỗi
người sẽ được phơi bày ra
ánh sáng. Thật thế, Ngày của
Chúa sẽ cho thấy công việc
đó, v́ Ngày ấy tỏ rạng trong
lửa; chính lửa này sẽ thử
nghiệm giá trị công việc của
mỗi người. Công việc xây
dựng của ai tồn tại trên
nền, th́ người ấy sẽ được
lĩnh thưởng. C̣n công việc
của ai bị thiêu huỷ, th́
người ấy sẽ phải thiệt. Tuy
nhiên, bản thân người ấy sẽ
được cứu, nhưng như thể băng
qua lửa.” (1 Cr
3:12-15) Trong bản văn này,
hiển nhiên là trong mọi
trường hợp sự cứu rỗi của
chúng ta có thể có nhiều
h́nh thức khác nhau, hiển
nhiên là một số những ǵ đă
được xây lên có thể bị thiêu
hủy, và cũng hiển nhiên là
để được cứu chuộc chính
chúng ta phải đi qua “lửa”
hầu được trở nên hoàn toàn
mở ra đón nhận Thiên Chúa và
có thể ngồi vào bàn tiệc
cưới muôn đời.
47. Một vài thần học gia mới
đây có ư kiến cho rằng lửa
vừa thiêu đốt vừa cứu chuộc
chính là Chúa Kitô, vị Thẩm
Phán và là Đấng Cứu Thế.
Cuộc gặp gỡ với Người là
hành động phán xét chung
cuộc. Trước ánh mắt người
tất cả những ǵ là giả trá
sẽ tan biến. Sự gặp gỡ Người
trong khi thiêu đốt chúng
ta, lại cải biến chúng ta,
và giải thoát chúng ta,
khiến cho chúng ta trở nên
con người chính thật của
ḿnh. Tất cả những ǵ chúng
ta xây dựng trong đời có thể
chỉ là rơm rạ, rỗng tuếch và
sụp đổ. Vậy mà trong cái đau
đớn của cuộc gặp gỡ này, khi
những dơ bẩn, và bệnh hoạn
của cuộc đời được phơi bày
ra trước mắt chúng ta, th́
ơn cứu độ nằm ngay ở đó. Cái
nh́n của Chúa, sự va chạm
của trái tim Người chữa lành
chúng ta qua một một biến
cải chắc chắn là đau đớn
“như đi qua lửa”. Nhưng đó
là một sự đau đớn được chúc
lành, trong đó quyền lực cực
thánh của t́nh yêu Người
xuyên thấu chúng ta như một
ngọn lửa, giúp chúng ta trở
nên hoàn toàn là chính ḿnh
và nhờ đó hoàn toàn thuộc về
Chúa. Bằng cách này sự tương
quan giữa công lư và ân sủng
cũng trở nên rơ ràng; cách
thức chúng ta sống trên đời
không phải là không quan
trọng, nhưng tội lỗi của
chúng ta không gây t́ ố trên
chúng ta măi măi nếu ít ra
chúng ta vẫn tiếp tục vươn
ra để đến với Chúa Kitô, đến
với sự thật và t́nh yêu.
Thật vậy, tội lỗi đă bị
thiêu đốt qua cuộc khổ nạn
của Chúa Kitô. Vào lúc chung
thẩm chúng ta cảm nhận và
hấp thụ quyền lực vô biên
của t́nh yêu Người trên tất
cả sự dữ trong thế gian và
trong chúng ta. Nỗi đau của
t́nh yêu trở nên ơn cứu rỗi
và niềm vui của chúng ta. Rơ
ràng là chúng ta không thể
đo lường “thời gian” của sự
thiêu đốt biến cải này bằng
những đơn vị đo lường thời
gian của trần thế. “Giờ
phút” biến cải trong cuộc
gặp gỡ này vượt quá ước tính
thế gian - đó là thời khắc
của con tim, đó là thời gian
của cuộc “vượt qua”, để tiến
đến hiệp thông với Thiên
Chúa qua Ḿnh Thánh Chúa
Kitô. 39 Sự phán
xét của Chúa là niềm hy
vọng, v́ đó vừa là công lư,
và vừa là ân sủng. Nếu chỉ
có ân sủng mà thôi, khiến
cho tất cả mọi việc trên thế
gian không c̣n vấn đề nữa,
th́ Chúa sẽ mắc nợ chúng ta
một câu trả lời về công lư –
một câu hỏi quyết liệt chúng
ta đặt ra cho lịch sử và cho
Thiên Chúa. Nếu chỉ là công
lư, th́ cuối cùng chỉ có thể
đem lại cho chúng ta sự sợ
hăi. Việc Thiên Chúa nhập
thể nơi Đức Kitô đă nối kết
công lư và ân sủng với nhau
mật thiết đến độ công lư
được thiết lập vững chắc:
chúng ta đều phải lo liệu
cho sự cứu rỗi của ḿnh
“trong âu lo và run sợ” (Pl
2:12). Tuy nhiên, ân sủng
cho phép tất cả chúng ta hy
vọng, và để vững tin đi gặp
vị Thẩm Phán, Đấng chúng ta
biết đến như là “trạng sư”,
hay parakletos (x. 1
Ga 2;1) của chúng ta.
48. Cần đề cập thêm một điều
nữa ở đây, v́ tầm quan trọng
của nó đối với việc thực
hành niềm hy vọng Kitô. Các
tư tưởng Do Thái Giáo sơ
khai bao gồm điều cho rằng
người ta có thể giúp đỡ
người quá cố trong trạng
thái trung gian bằng lời cầu
nguyện (chẳng hạn xem 2
Mcb 12: 38-45; thế kỷ
thứ nhất trước Chúa Giáng
Sinh). Thực hành tương đương
đă được các Kitô hữu sẵn
sàng tiếp nhận và được áp
dụng chung trong Giáo Hội
Đông Phương và Tây Phương.
Đông Phương không công nhận
sự thanh tẩy và chuộc lỗi
qua sự đau khổ của các linh
hồn ở đời sau, nhưng có công
nhận những mức độ khác nhau
của hạnh phúc và đau khổ
trong trạng thái trung gian.
Tuy nhiên, linh hồn của
người quá cố có thể nhận
được “sự an ủi và bổ sức”
qua việc rước Ḿnh Thánh,
cầu nguyện và bố thí. Niềm
tin cho rằng t́nh yêu có thể
vươn tới đời sau, việc cho
đi và nhận lănh hỗ tương là
có thể được, trong đó t́nh
yêu dành cho nhau tiếp tục
vượt qua cả những ranh giới
của sự chết - điều này đă
trở nên một xác tín của Kitô
Giáo qua nhiều thời đại và
ngày nay vẫn c̣n là một
nguồn suối ủi an. Ai mà
không cảm thấy cần thiết
phải bầy tỏ cho người thân
yêu đă ra đi một dấu chỉ của
ḷng tốt, một cử chỉ biết ơn
hay ngay cả một lời cầu xin
tha thứ? Đến đây, một câu
hỏi khác được đặt ra: nếu
“Luyện Ngục” chỉ đơn thuần
là sự thanh tẩy trong lửa
trong cuộc gặp gỡ với Thiên
Chúa, Đấng Phán Xét và là
Đấng Cứu Chuộc, th́ làm sao
một người thứ ba lại có thể
can thiệp, dù cho người ấy
có thân cận đến đâu? Khi
chúng ta đặt câu hỏi này,
chúng ta phải nhớ rằng không
ai là một ốc đảo sống hoàn
toàn biệt lập một ḿnh. Đời
sống chúng ta có liên quan
đến nhau, qua biết bao nhiêu
những giao tiếp, chúng được
liên kết lại với nhau. Không
ai sống một ḿnh. Không ai
phạm tội một ḿnh. Không ai
được rỗi một ḿnh. Đời sống
của người khác tiếp tục tuôn
đổ trên tôi trong ư nghĩ,
lời nói, việc làm và thành
đạt. Và ngược lại, đời tôi
tuôn đổ trên những người
khác: dù tốt hay xấu. Do đó,
lời cầu nguyện tôi dâng cho
người khác không phải là một
cái ǵ ngoại tại với người
ấy, dù cả sau cái chết.
Trong sự liên kết với nhau
của Hữu Thể, ḷng biết ơn
đối với người khác - lời
kinh dâng cho họ - có thể
đóng một vai tṛ nhỏ trong
sự thanh tẩy của họ. Và v́
không cần phải hoán đổi thời
giờ thế gian thành thời giờ
của Chúa v́ trong sự hiệp
thông của các linh hồn thời
giờ trần thế bị lấn lướt.
Không bao giờ được coi là
quá trễ để chạm đến trái tim
của người khác, và cũng
không bao giờ là vô ích.
Bằng cách này chúng ta làm
rơ thêm một yếu tố quan
trọng trong khái niệm hy
vọng của Kitô Giáo. Niềm hy
vọng của chúng ta luôn luôn
về căn bản là niềm hy vọng
của người khác: chỉ như thế
nó mới thật sự là niềm hy
vọng của cả tôi nữa. 40
Là Kitô hữu chúng ta không
bao giờ được tự giới hạn
ḿnh để chỉ biết hỏi: làm
sao để tôi được cứu rỗi?
Chúng ta phải nên hỏi: tôi
phải làm ǵ để cho người
khác có thể được cứu chuộc,
và để cả trong họ ngôi sao
hy vọng có thể vươn lên? Như
thế tôi cũng đă làm hết sức
ḿnh cho việc cứu rỗi của
chính ḿnh.
49.
Với một bài thánh ca được
soạn vào thế kỷ thứ 8 hay
thứ 9, tức là hơn một ngàn
năm rồi, Giáo Hội đă chào
mừng Mẹ Maria, Mẹ Thiên
Chúa, như là “Ngôi Sao
Biển”: Đó là bài Ave maris
stella. Đời người là một
cuộc lữ hành. Hướng đến đích
điểm nào? Làm sao t́m được
lối đi? Đời người như một
hải tŕnh trên đại dương của
lịch sử, thường tối tăm và
giông tố, một hành tŕnh
trong đó chúng ta t́m kiếm
những ngôi sao dẫn đường.
Những ngôi sao chính thật
trong cuộc sống chúng ta là
những người đă sống tốt
lành. Họ là những ánh sáng
của hy vọng. Chắc chắn, Chúa
Giêsu Kitô là ánh sáng thật,
là mặt trời đă lên cao vượt
trên tất cả các bóng tối của
lịch sử. Nhưng muốn đến được
với Người, chúng ta cũng cần
đến những ánh sáng gần bên –
của những người đang phản
chiếu ánh quang của Ngài và
dẫn đường cho chúng ta. C̣n
ai hơn được Mẹ Maria, là
ngôi sao hy vọng cho chúng
ta? Với tiếng “Xin Vâng” Mẹ
đă mở cửa thế giới chúng ta
cho chính Thiên Chúa; Mẹ đă
trở nên Ḥm Bia Thiên Chúa
sống động, trong đó Thiên
Chúa nhập thể, trở nên một
người giữa chúng ta, và dựng
lều của Ngài giữa chúng ta
(x. Ga 1:14)
50.
Do đó, chúng ta kêu lên với
Mẹ: Lạy Mẹ Maria Cực Thánh,
Mẹ là một trong những tâm
hồn khiêm nhu và cao cả của
Israel, những tâm hồn đang
“t́m sự ủi an cho Israel” (Lc
2:25), như ông Simêôn, và
đang hy vọng, như bà Anna,
“cho ơn cứu độ trên thành
Giêrusalem” (Lc
2:38). Cuộc đời Mẹ đă thấm
nhuần với thánh kinh vang
lên niềm hy vọng của Israel,
và vang lên lời hứa cho
Abraham và miêu duệ người (x
Lc 1:55). Bằng cách
này chúng con có thể thông
cảm nỗi lo sợ thánh thiện
của Mẹ khi thiên thần của
Chúa hiện ra với Mẹ và phán
rằng Mẹ sẽ sinh ra Đấng là
niềm hy vọng của Israel,
Đấng mà toàn thế giới đang
trông chờ. Qua Mẹ, qua lời
“Xin Vâng” của Mẹ, niềm hy
vọng của bao thời đại đă trở
thành hiện thực, khi bước
vào thế giới và lịch sử của
nó. Mẹ đă cúi sấp ḿnh trước
trọng trách này và nói lên
lời ưng thuận: “Này tôi là
tôi tá Đức Chúa Trời; tôi
xin vâng như lời thánh Thiên
Thần truyền (Lc
1:38). Khi Mẹ hối hả với
niềm vui thánh thiện vượt
rặng núi Giuđêa để thăm
người chị họ là bà
Êlisabeth, Mẹ đă trở nên
h́nh ảnh của Giáo Hội tương
lai, mang hy vọng của thế
giới trong ḷng để vượt qua
những rặng núi của lịch sử.
Nhưng bên cạnh niềm vui, với
lời ngợi khen Magnificat,
mà Mẹ đă tuyên xưng và hát
lên cho mọi thế kỷ được
nghe, Mẹ cũng biết đến những
lời đen tối mà các tiên tri
đă nói trước về những đau
đớn người tôi tớ của Chúa
trong thế giới này. Lúc Chúa
sinh ra tại hang lừa Bêlem,
Người được chiếu sáng bởi
những thiên thần trong ánh
huy hoàng đang mang tin mừng
đến cho những kẻ chăn cừu,
nhưng đồng thời lúc đó sự
thấp hèn của Thiên Chúa
trong thế giới này cũng thật
dễ cảm nhận. Ông già Simêon
nói với Mẹ về lưỡi gươm sẽ
đâm thấu ḷng Mẹ (x. Lc
2:35), về Con Mẹ sẽ nên dấu
chỉ mâu thuẫn trong thế giới
này. Rồi, khi Chúa Giêsu bắt
đầu sứ vụ công khai của
Ngài, Mẹ phải đứng sang một
bên, để cho một gia đ́nh mới
có thể tăng trưởng, một gia
đ́nh mà Chúa có sứ mạng phải
thiết lập và sẽ bao gồm tất
cả những ai lắng nghe và
tuân giữ lời Người (x Lc
11:27f). Bất chấp niềm vui
cả thể đánh dấu buổi đầu sứ
vụ của Chúa Giêsu, ngay tại
đền thờ Nazareth chắc Mẹ đă
cảm nhận sự thật về lời tiên
tri nói đến “dấu chỉ của mâu
thuẫn” (x Lc 4:
28ff). Qua đó, Mẹ đă thấy
được sức mạnh gia tăng của
thù nghịch và chối bỏ đang
bao vây quanh Chúa Giêsu cho
đến những giờ phút trên
Thánh Giá, khi Mẹ phải nh́n
ngắm Đấng Cứu Thế của nhân
loại, người thừa tự của
Đavít, và là Con Thiên Chúa
đă phải chết như một kẻ thất
bại, bị chế riễu giữa những
tội nhân. Khi đó Mẹ nghe lời
Chúa Giêsu phán: “Này Bà,
đây là con bà!” (Ga
19:26). Từ Thập Giá Mẹ tiếp
nhận một sứ mạng mới. Từ
Thập Giá Mẹ trở nên một
người mẹ trong một cách thế
mới mẻ; là người mẹ của tất
cả những ai tin vào Chúa
Giêsu Con Mẹ và muốn theo
Người. Lưỡi gươm của đau khổ
đă đâm thâu ḷng Mẹ. Niềm hy
vọng đă chết sao? Thế giới
vĩnh viễn mất đi ánh sáng và
đời sống mất hết mục đích
sao? Vào lúc đó, trong thâm
tâm, có lẽ Mẹ lại lắng nghe
lời thiên thần đáp lại nỗi
lo sợ của Mẹ vào lúc Truyền
Tin: “Này Maria, xin đừng
sợ!” (Lc 1:30). Đă
bao nhiêu lần Chúa Giêsu,
Con Mẹ đă nói với các môn đệ
cùng những lời này: “các con
đừng sợ!” Trong ḷng Mẹ, Mẹ
lại nghe thấy những lời này
vào đêm đen trên đồi
Golgôtha. Trước giờ bị phản
bội, Chúa cũng đă phán cùng
các môn đệ: “Hăy an tâm, ta
đă thắng thế gian” (Ga
16:33). ‘Ḷng các con đừng
bối rối, đừng lo sợ” (Ga
14:27). “Maria, đừng lo sợ!”
Vào giờ phút ấy tại Nazareth
thiên thần cũng nói với Mẹ:
“Triều Đại của Người sẽ vô
cùng vô tận.” (Lc
1:33) Triều đại này có chấm
dứt trước khi được khởi sự
không? Không, nơi chân Thánh
Giá, với sức mạnh của chính
lời Chúa Giêsu, Mẹ đă trở
nên người mẹ các tín hữu.
Trong niềm tin này, ngay
trong đêm tối của Thứ Bẩy
cực thánh, Mẹ đă mang trong
ḷng một xác quyết về niềm
hy vọng, giúp Mẹ qua được
tới buổi sáng Phục Sinh.
Niềm vui của sự Sống Lại
đánh động tim Mẹ và kết hiệp
Mẹ một cách mới mẻ với các
môn đệ, những người đă được
tiền định để trở nên một gia
đ́nh của Chúa Giêsu trong
đức tin. Bằng cách này Mẹ đă
hiện diện ngay giữa cộng
đồng các tín hữu, những
người vào những ngày sau khi
Chúa Lên Trời, đă hiệp lời
cầu nguyện xin cho được ơn
Chúa Thánh Thần (x Cv
1:14), và sau đó đă nhận
được ơn này vào ngày lễ Ngũ
Tuần. “Vương Quốc” của Chúa
Giêsu đă không như người ta
tưởng. Nước Chúa khởi sự vào
lúc đó và tiếp diễn đến bất
tận. Do đó, Mẹ ở lại với các
môn đệ như người mẹ của họ,
như người Mẹ của niềm hy
vọng. Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên
Chúa, Mẹ chúng con, xin Mẹ
dạy chúng con biết tin, biết
hy vọng và biết yêu với Mẹ.
Xin hướng dẫn chúng con tới
Vương Quốc của Chúa! Lạy
Ngôi Sao Biển, xin chiếu
sáng chúng con và dẫn đường
cho chúng con!
Ban hành tại Rôma, tại Đền
Thánh Phêrô, ngày 30 tháng
11, ngày Lễ Kính Thánh Anrê
Tông Đồ, năm 2007, năm thứ
ba của triều đại Giáo Hoàng
+ Đức Giáo Hoàng Bênêđictô.
XVI
1 Corpus Inscriptionum
Latinarum VI, no. 26003.
2 Cf. Dogmatic Poems,
V, 53-64: PG 37,
428-429.
3 Cf. Catechism of the
Catholic Church,
1817-1821.
4 Summa Theologiae,
II-IIae, q.4, a.1.
5 H. Kưster in
Theological Dictionary of
the New Testament VIII
(1972), p.586.
6 De excessu fratris sui
Satyri, II, 47: CSEL
73, 274.
7 Ibid., II, 46:
CSEL 73, 273.
8 Cf. Ep. 130 Ad Probam
14, 25-15, 28: CSEL
44, 68-73.
9 Cf. Catechism of the
Catholic Church, 1025.
10 Jean Giono, Les vraies
richesses (1936),
Preface, Paris 1992,
pp.18-20; quoted in Henri de
Lubac, Catholicisme.
Aspects sociaux du dogme,
Paris 1983, p.VII.
11 Ep. 130 Ad Probam
13, 24: CSEL 44, 67.
12 Sententiae III,
118: CCL 6/2, 215.
13 Cf. ibid. III, 71:
CCL 6/2, 107-108.
14 Novum Organum I,
117.
15 Cf . ibid. I, 129.
16 Cf . New Atlantis.
17 In Werke IV, ed.
W. Weischedel (1956), p.777.
18 I. Kant, Das Ende
aller Dinge, in Werke
VI, ed. W.Weischedel
(1964), p.190.
19 Chapters on charity,
Centuria 1, ch. 1: PG
90, 965.
20 Cf. ibid. : PG
90, 962-966.
21 Conf. X 43, 70:
CSEL 33, 279.
22 Sermo 340, 3:
PL 38, 1484; cf. F. Van
der Meer, Augustine the
Bishop, London and New
York 1961, p.268.
23 Sermo 339, 4:
PL 38, 1481.
24 Conf. X 43, 69:
CSEL 33, 279.
25 Cf. Catechism of the
Catholic Church, 2657.
26 Cf. In 1 Ioannis
4, 6: PL 35, 2008f.
27 Testimony of Hope,
Boston 2000, pp.121ff.
28 The Liturgy of the Hours,
Office of Readings, 24
November.
29 Sermones in Cant.,
Sermo 26, 5: PL
183, 906.
30 Negative Dialektik
(1966), Third part, III, 11,
in Gesammelte Schriften
VI, Frankfurt am Main
1973, p.395.
31 Ibid., Second
part, p.207.
32 DS 806.
33 Cf. Catechism of the
Catholic Church,
988-1004.
34 Cf. ibid., 1040.
35 Cf. Tractatus super
Psalmos, Ps 127,
1-3: CSEL 22,
628-630.
36 Gorgias 525a-526c.
37 Cf. Catechism of the
Catholic Church,
1033-1037.
38 Cf. ibid.,
1023-1029.
39 Cf. Catechism of the
Catholic Church,
1030-1032.
40 Cf. Catechism of the
Catholic Church, 1032.
© Copyright 2007 -
VietCatholic Network
Bản dịch Việt Ngữ của
VietCatholic Network.
-
Lm. Gioan Trần Công Nghị
-
Lm. Gioan Thiên Chúa
Phan Du Sinh, OFM
-
Ks. Gioan Baotixita Đặng
Minh An
Gs. Gioan Maria Bùi Hữu Thư |